Nghiên cứu khoa học từ sinh viên trong các trường đại học hiện nay có thể nói là một chủ đề mang tính tiềm năng nhưng còn nhiều điều tranh luận. Tính tiềm năng ở chỗ sinh viên là một lực lượng trẻ, đầy nhiệt huyết, dám nghĩ dám làm, có thời gian và một trí sáng tạo không ngừng được phát triển dưới mái trường đại học. Điều tranh luận ở đây là những lợi ích nào từ nghiên cứu khoa học mà sinh viên đạt được khi phải chi phí bằng những tiềm năng nói trên để lao vào nghiên cứu trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Cách lập luận như vậy làm cho chúng ta cần thảo luận vấn đề làm thế nào hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học có hiệu quả? Từ vấn đề này chúng ta lại phải mổ xẻ ba khía cạnh của nó: mục đích nghiên cứu khoa học của sinh viên là gì? Vai trò hướng dẫn của giảng viên thể hiện ra sao? và phương pháp nghiên cứu nào cần thiết tối thiểu khi nghiên cứu khoa học?
Mục đích nghiên cứu khoa học
Mục đích nghiên cứu khoa học của sinh viên dưới mái trường đại học thường lại được hiểu quá nhiều nghĩa. Những nước đã phát triển như Anh, Mỹ, Pháp, Úc . . . thì xem sinh viên đóng vai trò là những trợ lý nghiên cứu (Research Assistance - RA) cho các giảng viên có đề tài nghiên cứu, sinh viên làm điều này thì mới chập chững học hỏi kinh nghiệm từ những người thầy nhưng lại không mong đợi một giải thưởng to lớn nào cả. Tuy nhiên kinh nghiệm làm RA sẽ làm cho sinh viên có một bề dày kinh nghiệm để có khả năng độc lập nghiên cứu sau này.
Cũng có những nơi xem nghiên cứu khoa học đơn thuần là để sinh viên nắm vững những tri thức hiện có liên quan đến thực tiễn và lý thuyết môn mình đang học. Nói cách khác, nghiên cứu kiểu này giống như sinh viên nhảy vào một case study và nghiên cứu nó bằng tất cả những thông tin từ vô số nguồn khác nhau nhằm giải quyết vấn đề nêu ra từ tình huống. Fulbright, một trong những chương trình liên kết của trường, là một chương trình kiểu mẫu thực hiện kiểu nghiên cứu này, trong hầu hết các môn học đều có những case study liên quan đến bài giảng, sinh viên sẽ tuỳ theo chủ đề mà tìm những thông tin cập nhật nhất để giải quyết. Ví dụ như trong bài giảng về thông tin bất cân xứng trong thị trường tài chính thì sinh viên có case study về việc giải quyết mối quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, kết quả nghiên cứu sẽ làm cho sinh viên nắm chắc bài giảng và tự tin hơn về những gì trong thực tế mà nhiều khi chính giảng viên cũng cần học hỏi; điều này đương nhiên vì không ai biết tất cả mọi thứ trên đời, nói cách khác giảng viên không nên dạy theo kiểu áp đặt và cũng không nên luôn chứng minh rằng mình đã biết tất cả.
Cũng có những nơi, đặc biệt là các trường đại học Việt Nam lại rất tôn vinh các kết quả nghiên cứu khoa học từ sinh viên, hàng năm đều có những giải thưởng nghiên cứu khoa học cấp Bộ, giải thưởng nhà nghiên cứu trẻ, giải thưởng Eureka . . . Cách tuyển chọn từ cơ sở cho đến cấp cao nhất, như vậy là có rất nhiều sinh viên xứng đáng được giải thưởng. Tuy nhiên kết quả mang lại là lợi ích sẽ nằm ở đâu? Lợi ích đầu tiên là khuyến khích được sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, lợi ích thứ hai là tạo ra một phong trào sôi động từ những sinh viên trẻ và từ đó làm cho trường đại học có sinh khí nghiên cứu. Tuy nhiên, điều quan trọng là phong trào lại không thành một thói quen thường xuyên và kết quả nghiên cứu nhiều khi không giúp ích nhiều cho chính những môn học mà sinh viên đang theo đuổi và chuyên ngành mà sinh viên hướng nghiệp. Ví dụ sinh viên chuyên ngành “nhân lực” lại nghiên cứu về WTO.
Điểm lại có ba mục đích nghiên cứu khoa học của sinh viên. Nghiên cứu khoa học có thể làm RA cho giảng viên trong trường đại học, hoặc nghiên cứu khoa học dạng case study nhằm góp phần làm rõ cho các nội dung của từng chủ đề của môn học, và sau cùng là nghiên cứu khoa học dưới dạng phong trào. Trong trường chúng ta hiện nay các sinh viên nghiên cứu ở cả ba mục đích như vậy. Cho dù ở dạng nào đi chăng nữa thì vai trò hướng dẫn của giảng viên cực kỳ quan trọng, dĩ nhiên chúng ta cũng không phủ nhận tiềm năng rất lớn về nhiều phương diện của các sinh viên trẻ.
Giảng viên hỗ trợ sinh viên nghiên cứu khoa học
Vai trò giảng viên trong quá trình dìu dắt sinh viên theo kinh nghiệm cá nhân rất có hiệu quả với hai điều kiện cần. Đầu tiên chính giảng viên phải có những đề tài đang nghiên cứu, chỉ có như vậy mới tạo cơ hội cho sinh viên cùng tham gia với những mảng nhỏ của đề tài lớn, giảng viên và sinh viên sẽ làm việc theo kiểu team work (đôi khi còn gọi là research team), có nghĩa là giảng viên truyền đạt những kinh nghiệm của họ trong lĩnh vực mình đang nghiên cứu và đồng thời vạch ra hướng đi để sinh viên đi đúng hướng. Thể hiện team work ở đây là có sự trao đổi từ hai phía, có nghĩa là sinh viên không chỉ thụ động chờ sự hướng dẫn thuần tuý từ giảng viên mà còn phải nêu những ý tưởng mình khám phá được trong quá trình cùng nghiên cứu với giảng viên. Cách học thời phổ thông và cách giảng dạy độc thoại, có thể nói đã tạo ra một sức ỳ không nhỏ trong quá trình sinh viên nghiên cứu với giảng viên.
Điều kiện cần thứ hai là giảng viên phải có phương pháp nghiên cứu rõ ràng, chuẩn mực. Cho đến hiện nay khi các đề tài từ thạc sỹ đến tiến sỹ hãy còn nặng về những đề tài “giải pháp”, không thể nói là các “giải pháp” đề ra không có giá trị nhưng cái chúng ta cần cung cấp với vị trí nhà nghiên cứu là các gợi ý chính sách. Sau khi có gợi ý chính sách thì các policy makers mới lựa chọn và thực hiện thông qua giải pháp và các lộ trình. Muốn có những gợi ý chính sách tin cậy thì cần có những kiểm định những giả thuyết nghiên cứu, muốn hình thành giả thuyết nghiên cứu và kiểm định nó thì cần phải có mô hình định lượng cụ thể, có nghĩa là cần phải có phương pháp nghiên cứu. Những phương pháp truyền thống như phân tích, tổng hợp, thống kê thứ cấp đã không làm nổi bật những đóng góp mới từ việc nghiên cứu. Vừa qua GS Bành Tiến Long đã có buổi làm việc với nhà trường đã thống kê là có đến hơn 50% luận văn thạc sỹ và tiến sĩ làm về đề tài giải pháp và phương pháp nghiên cứu rất chung. Lĩnh vực phương pháp nghiên cứu trước hết giảng viên nên làm chủ rồi sau đó mới truyền đạt cho sinh viên để họ có cơ sở nghiên cứu trong trường chúng ta. Đó là phương pháp luận nghiên cứu khoa học (research methodology). Phương pháp nghiên cứu khoa học sẽ giúp chúng ta các bước trình bày vấn đề nghiên cứu sau khi tổng quan các đề tài nghiên cứu đã thực hiện, các phương pháp giải quyết vấn đề nghiên cứu và cách gợi ý chính sách.
Hai loại phương pháp liên quan đến phương pháp luận nghiên cứu khoa học cần triển khai trong trường đại học, trước hết là giảng viên sau đó là sinh viên. Dĩ nhiên trường chúng ta đã và đang thực hiện giảng dạy hai phương pháp này từ lâu, nhưng vấn đề ở chỗ là sự liên kết của nó với quá trình nghiên cứu, hay nói khác đi là sự ứng dụng trong thực nghiệm. Lĩnh vực quản trị thì nên đi sâu vào các phương pháp nghiên cứu thị trường (marketing research), còn lĩnh vực kinh tế thì nên đi vào các môn học kinh tế lượng (econometrics) và các công cụ định lượng khác (quantitative anlysis). Giải thích nôm na là giảng viên vừa phải am hiểu các vấn đề liên quan đến thị trường và các công cụ nghiên cứu thị trường, nếu người dạy marketing research lại không biết rõ về thị trường thì sinh viên sẽ không biết ứng dụng hiệu quả cho tình huống nghiên cứu bên thế giới thực. Giảng viên dạy kinh tế lượng phải hiểu biết sâu về kinh tế vi mô và vĩ mô, thì từ đó mới có sự kết hợp tốt giữa các vấn đề kinh tế và định lượng chúng. Đây là điểm nhức đầu của các giảng viên khi chấm các đề tài nghiên cứu sinh viên ,vì đa số các đề tài chỉ dừng lại ở số liệu thứ cấp và thống kê mô tả mà rất ít đề tài định lượng được vấn đề nghiên cứu. Cái khó ở đây là giảng viên phải đi tiên phong trong phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học thì mới hy vọng sinh viên phát huy tính sáng tạo của họ.
Hướng nghiên cứu nào cho sinh viên hiện nay?
Đây là một câu hỏi rất khó trả lời bằng những chủ đề nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên câu trả lời chỉ mang tính gợi ý chung cho việc lựa chọn một đề tài nghiên cứu khoa học. Tiêu chuẩn lựa chọn đầu tiên vẫn là gắn với thực tế kinh tế và xã hội, gắn với sự vận động của nền kinh tế, gắn với những sự thay đổi của nền kinh tế thế giới, và gắn với sự thay đổi chính sách của chính phủ. Cách làm này giảng viên đã đã thực hiện đối với sinh viên trong rất nhiều trường đại học ở các nước đã phát triển. Đơn cử một ví dụ là “hãy tìm ra những sự kiện nổi bật trong nước hoặc thế giới trong ba tháng qua”, với những phương tiện hiện đại internet và các tạp chí chuyên ngành sẽ giúp sinh viên tìm ra những sự kiện và định hướng nhữngchủ đề nghiên cứu gắn với thực tế. Tiêu chuẩn thứ hai là ít nhất phải áp dụng một trong những phương pháp định lượng nào đó trong kinh tế và quản trị. Một đề tài chỉ dừng ở mức mô tả đơn giản không thể gọi là đề tài nghiên cứu khoa học, nó chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo vì cơ sở tìm kiếm, kết luận hoặc gợi chính sách rất yếu. Tiêu chuẩn thứ ba là nó phải nằm vừa sức với sinh viên về thời gian, kinh phí và phạm vi. Có nghĩa là phạm vi và mục tiêu nghiên cứu phải rõ ràng và việc áp dụng các công cụ nghiên cứu cụ thể nào để đạt được mục tiêu nghiên cứu, nói rõ hơn là không nên đi vào những đề tài quá “kêu” và quá “lớn”, hoặc là quá “mênh mông” để rồi những tìm kiếm từ nghiên cứu trở nên “chung chung”, và hình như những tìm kiếm này đã được nói rất nhiều trước khi nghiên cứu.
Thay cho lời kết
Nghiên cứu khoa học từ sinh viên, cho dù ở mục đích nào cũng đều tốt. Cái quan trọng ở chỗ khi sinh viên bỏ ra những chi phí rất tiềm năng từ tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, tri thức và hoài bão của mình thì ít nhất phải gặt hái được những lợi ích tương xứng. Muốn đạt được những lợi ích như mong muốn thì nghiên cứu khoa học từ sinh viên cần phải định hướng chủ đề tốt và phải có phương pháp nghiên cứu thích hợp. Sự trang bị phương pháp luận nghiên cứu lại phụ thuộc rất lớn vào các giảng viên, sau đó lại phụ thuộc rất lớn vào các chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy trong nhà trường. Nói ngắn gọn, phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên là cực kỳ cần thiết, nhưng nếu muốn đạt đến những lợi ích cần thiết thì việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, trang bị phương pháp nghiên cứu thích hợp, thì ngoài trách nhiệm từ giảng viên còn có trách nhiệm về chương trình đào tạo và cơ chế nghiên cứu khoa học từ phía nhà trường.
Nguồn: TS. Nguyễn Trọng Hoài - Phó trưởng khoa Kinh tế phát triển- Đại học Kinh tế.














